Bếp nhà thường có một ngăn kéo đầy dụng cụ mà lúc cần thì vẫn thiếu, vì mua theo lúc hứng chứ không theo việc.
Bài này liệt kê nhóm thật sự dùng tới và cách giữ chúng bền.
Ba con dao cần có
Dao bản to đa dụng là con chính. Dài hai mươi phân.
Dao bản to làm được tám phần mười công việc. Thái, chặt nhẹ, băm.
Dao nhỏ gọt vỏ và tỉa. Cầm gọn trong tay.
Dao răng cưa cắt bánh mì và cà chua. Vỏ mềm ruột mềm.
Không cần bộ dao mười con. Ba con là đủ.
Dao thép không gỉ dễ giữ. Không cần lau khô ngay.
Dao thép carbon sắc hơn nhưng gỉ. Phải lau khô.
Cán dao vừa tay quan trọng hơn thương hiệu. Cầm thử trước khi mua.
Dao nặng tay hợp chặt. Dao nhẹ hợp thái nhanh.
Lưỡi dao liền cán thì bền hơn. Không lung lay.
Dao Nhật mỏng và sắc. Nhưng dễ mẻ.
Dao Việt bản dày chịu chặt. Bền hơn.
Có dao chặt riêng nếu hay chặt. Không chặt bằng dao thái.
Một con dao đa dụng vừa tay và được mài đều đặn làm việc tốt hơn cả bộ dao đắt tiền để cùn trong ngăn kéo. Chọn một con và chăm nó.
Mài và giữ dao
Dao cùn nguy hiểm hơn dao sắc. Phải đè mạnh nên dễ trượt.
Mài dao mỗi vài tuần nếu dùng hằng ngày. Đừng đợi cùn hẳn.
Đá mài hai mặt là đủ. Mặt thô và mặt mịn.
Ngâm đá mài trong nước mười phút. Trước khi mài.
Giữ góc nghiêng khoảng mười lăm tới hai mươi độ. Cố định suốt.
Đẩy lưỡi dao dọc đá đều tay. Cả hai mặt đều số lượt.
Thanh mài chỉ nắn lại lưỡi. Không mài thật.
Dùng thanh mài trước mỗi lần nấu. Giữ lưỡi thẳng.
Thử độ sắc bằng cách cắt tờ giấy. Đứt gọn là được.
Không rửa dao trong máy rửa bát. Lưỡi mẻ và cán hỏng.
Rửa tay và lau khô ngay. Nhất là dao carbon.
Cất dao trên giá từ hoặc khay có rãnh. Không quăng ngăn kéo.
Dao chạm nhau trong ngăn kéo thì mẻ. Và nguy hiểm khi thò tay.
Mài dao đều đặn là việc rẻ nhất nhưng cải thiện việc bếp nhiều nhất, hơn hẳn mua thêm dao mới. Mài trước khi mua thêm.
Thớt
Thớt gỗ nhẹ tay dao hơn. Lưỡi lâu cùn.
Thớt nhựa dễ rửa và nhẹ. Nhưng hằn vết dao.
Thớt kính làm cùn dao rất nhanh. Không nên dùng để thái.
Thớt tre cứng, hơi hại lưỡi. Nhưng bền.
Thớt phải đủ to. Nhỏ quá thì rau rơi.
Lót khăn ẩm dưới thớt. Chống trượt.
Thớt riêng cho đồ sống và đồ chín. Nguyên tắc an toàn.
Thớt riêng cho đồ có mùi mạnh. Sả, tỏi, ớt.
Rửa ngay sau khi dùng. Không để khô.
Phơi dựng đứng cho thoáng hai mặt. Không úp sát bàn.
Thớt gỗ quét dầu ăn định kỳ. Chống nứt.
Chà muối và chanh khử mùi thớt gỗ. Rồi rửa sạch.
Thớt nứt sâu thì thay. Giữ vi khuẩn.
Hai cái thớt và một khăn lót chống trượt là toàn bộ nhu cầu thớt của bếp nhà. Không cần nhiều hơn.
Dụng cụ đảo, vớt và gắp
Sạn gỗ không xước chảo. Dùng được mọi loại chảo.
Sạn silicon chịu nhiệt và mềm. Vét sạch chảo.
Sạn kim loại chỉ dùng với chảo inox và gang. Không dùng chảo chống dính.
Muôi có mỏ rót thì đỡ đổ. Chi tiết nhỏ mà tiện.
Vá thủng lỗ để vớt. Ráo nước.
Rổ lưới có cán để trụng. Nhúng cả rổ.
Kẹp gắp dài cho món chiên. Tránh bỏng.
Đũa dài chuyên nấu ăn. Đũa Nhật rất tiện.
Phới lồng đánh tan bột. Không vón.
Phới dẹt silicon vét nồi. Không phí thức ăn.
Cây dầm nghiền khoai và đậu. Không dùng máy xay.
Chày cối giã tỏi và gia vị. Thơm hơn máy.
Chọn cán chịu nhiệt. Nhựa thường chảy.
Nhóm này mua theo việc thật sự làm chứ không mua theo bộ, vì bộ nào cũng có nửa số món không bao giờ dùng. Mua lẻ từng món.
Dụng cụ đong đo và lọc
Cân điện tử quan trọng nhất. Chính xác hơn đong cốc.
Thìa đong bộ năm cái. Cho gia vị.
Cốc đong có vạch cho chất lỏng. Đọc ngang tầm mắt.
Nhiệt kế đầu dò cho dầu và siro. Nếu hay chiên hoặc làm bánh.
Đồng hồ hẹn giờ. Điện thoại cũng được.
Rây lọc bột và lọc nước. Mắt nhỏ.
Rá vo gạo và rửa rau. Lỗ to.
Vải lọc cho sữa hạt. Túi lọc chuyên dụng.
Phễu rót chất lỏng vào chai. Không đổ.
Muỗng vét lọ. Hết sạch bơ hạt.
Bát trộn nhiều cỡ lồng nhau. Tiết kiệm chỗ.
Bát inox nhẹ và bền. Không nứt.
Hộp đựng có nắp kín. Trữ đồ thừa.
Cân và rây là hai món trong nhóm này được dùng nhiều nhất, và cũng là hai món rẻ nhất. Mua hai món đó trước.
Cất và sắp xếp
Để dụng cụ hay dùng trong ống trên bàn. Với tay là lấy được.
Để dụng cụ ít dùng trong ngăn kéo. Có ngăn chia.
Treo dụng cụ dài lên thanh móc. Tiết kiệm ngăn kéo.
Dao cất trên giá từ hoặc khay rãnh. An toàn.
Không để dao lẫn trong chậu rửa. Rất dễ đứt tay.
Rửa dao riêng và ngay. Không ngâm chung.
Nồi xếp chồng có lót khăn. Không xước.
Nắp nồi dựng trong giá riêng. Không chồng lên nồi.
Thớt dựng đứng cho khô. Không úp sát mặt bàn.
Rà lại ngăn kéo mỗi năm. Bỏ món không dùng.
Món hỏng thì bỏ ngay. Không để chờ sửa.
Không giữ hai món cùng công dụng. Giữ cái tốt hơn.
Ghi danh sách đồ đang có. Tránh mua trùng.
Một ngăn kéo gọn với đúng những món dùng thường xuyên làm việc bếp nhẹ hơn hẳn so với một ngăn đầy ắp. Dọn một lần cho gọn.
Lỗi hay gặp
Dùng dao cùn. Nguy hiểm và rau nát.
Đợi dao cùn hẳn mới mài. Mài rất lâu mới lại.
Rửa dao trong máy rửa bát. Mẻ lưỡi.
Để dao trong chậu rửa. Đứt tay.
Quăng dao vào ngăn kéo chung. Mẻ và nguy hiểm.
Thái trên thớt kính. Dao cùn rất nhanh.
Thớt trượt vì không lót khăn. Nguy hiểm.
Dùng chung một thớt cho mọi thứ. Lẫn mùi.
Để thớt gỗ ướt úp sát bàn. Mốc mặt dưới.
Dùng sạn kim loại trong chảo chống dính. Xước.
Mua bộ dụng cụ mười món. Dùng ba.
Không có cân, đong bằng mắt. Kết quả thất thường.
Giữ dụng cụ hỏng chờ sửa. Chiếm chỗ.
Dụng cụ tốt được chăm sóc tốt làm việc bếp nhẹ đi rất nhiều, và phần chăm sóc thì hầu như không tốn tiền. Chăm hơn là mua.