Bếp bẩn làm người ta ngại nấu, và ngại nấu thì lại ăn ngoài, nên dọn bếp là chuyện ảnh hưởng tới cả bữa ăn chứ không chỉ tới mỹ quan.
Phần lớn việc dọn nhẹ đi rất nhiều nếu làm đúng lúc.
Dọn trong lúc nấu
Rửa dụng cụ ngay khi dùng xong. Chưa khô thì rất dễ.
Bột và sốt khô lại thì phải cạo. Mất gấp bốn thời gian.
Ngâm nồi ngay sau khi trút món ra. Nước ấm.
Đổ nước nóng vào nồi dính dầu. Dầu tan nhanh.
Đặt một tô đựng rác trên bàn. Không chạy tới thùng.
Lau mặt bếp khi vết còn ấm. Chưa bám chặt.
Cất nguyên liệu về chỗ ngay sau khi cân. Bàn luôn trống.
Lau dầu bắn ngay khi tắt bếp. Bếp còn ấm thì dầu chưa cứng.
Không để bát đĩa chồng trong chậu. Càng nhìn càng ngại.
Rửa theo thứ tự sạch tới bẩn. Ly, bát, rồi nồi.
Tận dụng thời gian chờ nồi sôi. Dọn được nhiều.
Dọn dần thì cuối buổi gần như xong. Cảm giác khác hẳn.
Bật nhạc khi dọn. Đỡ ngại.
Dọn trong lúc nấu là thói quen tiết kiệm thời gian nhiều nhất trong bếp, vì mọi vết bẩn đều dễ nhất khi còn ấm. Dọn ngay lúc còn ấm.
Tẩy dầu mỡ
Nước nóng và xà phòng rửa bát là đủ cho phần lớn. Không cần hoá chất mạnh.
Vết dầu cũ bám thì đắp khăn giấy thấm giấm. Mười lăm phút.
Muối nở trộn nước thành hồ chà vết cứng. Không xước.
Chanh cắt đôi chà mặt inox. Sáng và thơm.
Nước rửa pha loãng xịt mặt bếp. Lau ngay.
Hút mùi tháo lưới ngâm nước nóng. Có muối nở.
Lưới hút mùi nên vệ sinh mỗi tháng. Bám dầu rất nhanh.
Tường sau bếp lau hằng tuần. Dầu bắn xa hơn ta tưởng.
Bếp gas tháo kiềng ngâm riêng. Cọ bằng bàn chải.
Mặt kính bếp từ lau khi nguội. Không cọ bằng vật cứng.
Vết cháy trên bếp từ dùng dao cạo chuyên dụng. Góc nghiêng.
Không dùng búi sắt lên mặt kính. Xước vĩnh viễn.
Không trộn các loại chất tẩy với nhau. Sinh khí độc.
Giấm, muối nở và nước nóng xử lý được gần hết vết bẩn bếp, nên hiếm khi cần tới hoá chất mạnh. Dùng đồ có sẵn.
Khử mùi
Nồi ám mùi thì đun nước với giấm. Mười phút.
Hoặc đun nước với vỏ chanh. Thơm hơn.
Hộp nhựa ám mùi thì phơi nắng. Cách hiệu quả.
Hoặc để giấy báo vò trong hộp qua đêm. Hút mùi.
Thớt gỗ ám mùi thì chà muối và chanh. Rồi rửa lại.
Tay ám mùi hành tỏi thì chà inox dưới vòi nước. Mẹo hiệu nghiệm.
Tủ lạnh để hộp muối nở mở nắp. Hút mùi.
Bã cà phê khô cũng hút mùi tủ. Thay hằng tháng.
Cống bồn rửa đổ nước nóng và muối nở. Rồi giấm.
Mùi cống dai dẳng thì kiểm bẫy nước. Có thể khô cạn.
Thùng rác rửa và phơi định kỳ. Nguồn mùi lớn.
Lót đáy thùng rác bằng giấy báo. Thấm nước rỉ.
Mở cửa sổ sau khi nấu món nặng mùi. Thoáng khí.
Mùi trong bếp gần như luôn có nguồn cụ thể, nên tìm ra nguồn hiệu quả hơn là xịt thơm che đi. Tìm nguồn trước.
Giẻ, miếng rửa và bàn chải
Giẻ ẩm là nơi vi khuẩn sinh nhiều nhất. Trong cả bếp.
Vắt khô và treo lên sau mỗi lần dùng. Không để nằm trên mặt bàn.
Luộc giẻ mỗi tuần. Hoặc giặt nước nóng.
Thay giẻ mỗi vài tuần. Là đồ tiêu hao.
Giẻ có mùi là đã phải thay. Không cứu bằng giặt.
Dùng giẻ riêng cho bàn và cho sàn. Không lẫn.
Miếng rửa bát cũng thay thường xuyên. Giữ vụn thức ăn.
Bàn chải dễ khô hơn miếng mút. Vệ sinh hơn.
Bàn chải treo cho ráo. Không để trong hộp kín.
Khăn lau khô bát riêng. Giặt thường xuyên.
Không dùng khăn lau bát để lau bếp. Lẫn dầu.
Găng cao su lộn trái phơi. Trong khô ráo.
Thay găng khi rách. Nước vào thì hôi.
Giẻ và miếng rửa là hai món bẩn nhất trong bếp mà lại ít ai để ý, nên thay chúng thường xuyên là việc đáng làm. Thay đều đặn.
Lịch dọn theo ngày tuần tháng
Hằng ngày lau mặt bếp và bàn. Sau mỗi lần nấu.
Hằng ngày rửa hết bát đĩa. Không để qua đêm.
Hằng ngày đổ rác thực phẩm. Nguồn mùi và ruồi.
Hằng ngày vắt và treo giẻ. Việc nhỏ mà quan trọng.
Hằng tuần lau tường sau bếp. Dầu bắn.
Hằng tuần rà tủ lạnh. Bỏ đồ hỏng.
Hằng tuần giặt giẻ và khăn. Nước nóng.
Hằng tuần đổ nước nóng xuống cống. Chống tắc.
Hằng tháng vệ sinh lưới hút mùi. Dầu bám dày.
Hằng tháng lau trong tủ bếp. Kiểm mọt.
Hằng tháng rà hạn dùng. Tủ khô và tủ lạnh.
Vài tháng vệ sinh tủ lạnh toàn bộ. Rút điện, tháo ngăn.
Vài tháng kiểm gioăng tủ lạnh. Hở thì tốn điện.
Chia việc dọn thành ngày, tuần và tháng thì không có việc nào thành quá lớn, và bếp luôn ở mức dùng được. Chia nhỏ ra làm.
An toàn thực phẩm cơ bản
Rửa tay trước khi nấu. Việc đầu tiên.
Rửa tay sau khi sờ đồ sống. Kể cả rau đất.
Thớt riêng cho đồ sống và đồ chín. Nguyên tắc chính.
Không để đồ chín lên đĩa đã đựng đồ sống. Nhiễm chéo.
Không để thức ăn ngoài quá hai giờ. Mùa nóng thì một giờ.
Làm nguội nhanh bằng cách chia hộp nhỏ. Rồi cất.
Hâm lại thì đun sôi kỹ. Không hâm ấm.
Không hâm đi hâm lại nhiều lần. Chỉ lấy phần ăn.
Rã đông trong ngăn mát. Không để ngoài.
Đồ nghi hỏng thì bỏ. Không nếm thử.
Nấu chín không cứu được đồ đã hỏng. Độc tố vẫn còn.
Đồ phồng hộp hoặc sủi bọt thì bỏ. Dấu hiệu rõ.
Mốc trên đồ mềm thì bỏ cả. Sợi nấm ăn sâu.
An toàn thực phẩm chỉ gồm vài quy tắc đơn giản, nhưng chúng phải được làm mọi lần chứ không phải lúc nhớ lúc quên. Làm thành phản xạ.
Lỗi hay gặp
Để bát đĩa qua đêm. Khô cứng và có mùi.
Để giẻ ẩm nằm trên mặt bàn. Ổ vi khuẩn.
Không thay giẻ nhiều tháng. Càng lau càng bẩn.
Dùng búi sắt lên mặt kính bếp từ. Xước.
Cọ chảo chống dính bằng búi sắt. Bong lớp phủ.
Đổ dầu thừa xuống cống. Tắc ống.
Trộn các loại chất tẩy. Sinh khí độc.
Xịt thơm thay vì tìm nguồn mùi. Mùi quay lại.
Không vệ sinh lưới hút mùi. Dầu nhỏ xuống bếp.
Dùng chung thớt cho mọi thứ. Nhiễm chéo.
Để cơm nguội ngoài qua đêm. Không an toàn.
Nếm thử đồ nghi hỏng. Rủi ro thật.
Cắt bỏ phần mốc rồi ăn phần còn lại. Với đồ mềm thì không được.
Bếp sạch không cần tốn nhiều thời gian nếu việc được làm ngay lúc dễ nhất, còn để dồn thì lúc nào cũng thành việc lớn. Làm ngay, đừng dồn.