WikiAmThuc.comTra một chỗ, hiểu tới nơi
Bảng tra nhanh

Bảng tra hạn dùng và cách bảo quản

Thứ nào để tủ, thứ nào để ngoài, và giữ được bao lâu.

Ngăn tủ lạnh xếp gọn các hộp thực phẩm

Câu hỏi thường gặp nhất khi mở tủ lạnh là thứ này còn dùng được không, và đoán mò thì hoặc phí của hoặc rủi ro.

Bảng dưới đây là các mốc thường gặp, kèm dấu hiệu để tự đánh giá.

Rau củ tươi

Rau lá xanh hai tới ba ngày. Ngăn mát, bọc khăn giấy.

Rau thơm ba tới năm ngày. Cắm ly nước, trùm túi.

Giá đỗ một tới hai ngày. Rất nhanh hỏng.

Bắp cải và su hào một tới hai tuần. Ngăn mát.

Cà rốt và củ cải một tới hai tuần. Cắt bỏ phần lá.

Khoai tây hai tới ba tháng. Nơi tối mát, không để tủ lạnh.

Khoai lang một tới hai tháng. Nơi thoáng.

Hành tây và tỏi một tới hai tháng. Nơi khô thoáng.

Cà chua ba tới năm ngày. Để ngoài cho chín, rồi vào tủ.

Bí đỏ nguyên quả vài tháng. Cắt rồi thì vài ngày.

Gừng và sả hai tuần. Hoặc cấp đông lâu hơn.

Chanh và tắc hai tuần. Ngăn mát.

Trái cây thì tuỳ loại rất nhiều. Nhìn và ngửi.

Nhóm rau lá là nhóm hỏng nhanh nhất nên phải ăn trước, còn nhóm củ thì để được lâu và nên trữ sẵn. Ăn rau lá trước.

Đậu phụ, nấm và đạm thực vật

Đậu phụ tươi ba tới bốn ngày. Ngâm nước, thay nước mỗi ngày.

Đậu phụ đã cắt hai ngày. Mặt cắt hỏng trước.

Đậu phụ chiên ba ngày. Hộp kín.

Đậu phụ cấp đông ba tháng. Kết cấu đổi thành xốp.

Nấm tươi hai tới ba ngày. Túi giấy, ngăn mát.

Nấm đã xào ba ngày. Hoặc cấp đông.

Nấm khô sáu tháng tới một năm. Hũ kín nơi khô.

Tàu hũ ky khô vài tháng. Tránh ẩm.

Tempeh đóng gói một tuần. Ngăn mát.

Mì căn tự làm ba ngày. Ngăn mát.

Sữa hạt tự làm hai tới ba ngày. Chai kín ngăn mát.

Sữa hạt hộp giấy chưa mở thì lâu. Mở rồi thì năm ngày.

Chao và tương sau khi mở vài tháng. Ngăn mát, muỗng khô.

Đậu phụ là nhóm hỏng nhanh và dễ nhận biết bằng mũi, nên ngửi trước khi nấu là thói quen đáng có. Ngửi trước khi dùng.

Đồ khô và gia vị

Gạo trắng một năm. Thùng kín nơi khô.

Gạo lứt ba tới sáu tháng. Ngăn mát thì lâu hơn.

Bột mì sáu tháng tới một năm. Hũ kín.

Bột hạnh nhân ba tháng. Ngăn mát.

Đậu khô một tới hai năm. Càng cũ càng khó mềm.

Hạt các loại ba tháng ở nhiệt độ phòng. Ngăn mát thì sáu tháng.

Bơ hạt ba tháng sau khi mở. Ngăn mát.

Dầu ăn sáu tháng sau khi mở. Nơi tối mát.

Gia vị nguyên hạt hai năm. Hũ kín.

Gia vị xay bột sáu tháng tới một năm. Mất mùi dần.

Bột nở sáu tháng tới một năm. Kiểm bằng nước nóng.

Baking soda rất lâu. Nhưng vẫn kiểm.

Đường và muối gần như không hỏng. Chỉ vón.

Đồ khô ít khi hỏng hẳn mà thường là mất mùi hoặc mọt, nên kiểm định kỳ quan trọng hơn nhớ hạn. Kiểm mỗi vài tháng.

Đồ nấu sẵn và đồ thừa

Cơm nguội một ngày. Ngăn mát, hộp kín.

Món kho ba tới bốn ngày. Ngăn mát.

Món xào hai ngày. Rau nhanh hỏng hơn.

Canh hai ngày. Đun sôi lại.

Món hầm ba ngày. Hoặc cấp đông.

Đồ chiên một tới hai ngày. Mất giòn ngay từ hôm sau.

Nước dùng ba ngày. Hoặc cấp đông theo khay đá.

Sốt ba tới năm ngày. Tuỳ thành phần.

Đồ nấu sẵn cấp đông ba tháng. Ghi ngày.

Không để đồ nấu ngoài quá hai giờ. Mùa nóng thì một giờ.

Chia hộp nhỏ cho nguội nhanh. An toàn hơn.

Hâm lại thì đun sôi kỹ. Không hâm ấm.

Chỉ hâm phần sắp ăn. Hâm đi hâm lại là giảm chất.

Với đồ nấu sẵn thì mốc thời gian quan trọng hơn cả, vì nó hỏng âm thầm chứ không phải lúc nào cũng có dấu hiệu rõ. Ghi ngày và tuân thủ.

Đồ muối, đồ ngâm và đồ đông

Dưa muối trong tủ lạnh vài tuần. Chua dần.

Dưa muối ngoài nhiệt độ phòng vài ngày. Rồi phải cho tủ.

Đồ chua ngâm giấm hai tới ba tuần. Ngăn mát.

Mứt đường nhiều thì vài tháng. Hũ kín.

Mứt ít đường thì phải trữ lạnh. Vài tuần.

Đồ ngâm dầu một tới hai tuần. Ngăn mát, nhóm rủi ro nhất.

Siro trái cây vài tháng. Ngăn mát.

Rau chần cấp đông sáu tháng. Chần trước khi đông.

Đậu nấu cấp đông ba tháng. Đông cùng chút nước.

Nước cốt dừa cấp đông ba tháng. Khay đá.

Bánh cấp đông một tới hai tháng. Bọc kín.

Bột nhào cấp đông một tháng. Rã trong ngăn mát.

Không đông lại đồ đã rã. Nguyên tắc.

Ngăn đông kéo dài hạn dùng rất nhiều nhưng chỉ khi đồ được bọc kín và được ghi ngày rõ ràng. Bọc kín và ghi ngày.

Dấu hiệu nhận biết hỏng

Mùi chua hoặc thối thì bỏ. Dấu hiệu rõ nhất.

Nhớt trên bề mặt thì bỏ. Rau, nấm, đậu phụ.

Mốc xanh, đen, hồng thì bỏ. Không cắt phần lành mà ăn.

Với đồ mềm thì mốc ăn sâu. Bỏ cả.

Hộp phồng hoặc sủi bọt thì bỏ. Khí do vi khuẩn.

Màu đổi bất thường thì cẩn thận. Kết hợp với mùi mà xét.

Vị lạ khi nếm thử một chút. Nhổ ra và bỏ.

Không nếm đồ nghi hỏng nặng. Ngửi và nhìn là đủ.

Dầu có mùi như sơn là đã ôi. Bỏ.

Hạt có vị đắng là ôi. Bỏ cả gói.

Bột có mọt thì sàng bỏ. Vẫn dùng được nếu nhẹ.

Bột mốc thì bỏ. Không sàng lại.

Nghi ngờ thì bỏ. Không đáng liều.

Nguyên tắc cuối cùng là khi không chắc thì bỏ, vì tiền một món ăn rẻ hơn rất nhiều so với một lần đau bụng. Không chắc thì bỏ.

Thói quen giúp không phí

Ghi ngày lên mọi hộp. Việc mười giây.

Xếp đồ cũ ra ngoài. Dùng trước.

Dành một ngăn cho đồ ăn trước. Ngang tầm mắt.

Rà tủ lạnh trước khi đi chợ. Mỗi tuần một lần.

Chụp ảnh tủ trước khi đi chợ. Khỏi mua trùng.

Mua vừa đủ cho vài ngày. Nhất là rau lá.

Sơ chế ngay khi mua về. Rau để được lâu hơn.

Chia phần và cấp đông ngay. Nếu mua nhiều.

Dành một bữa mỗi tuần nấu đồ còn lại. Giảm lãng phí.

Phần vỏ và gốc rau nấu nước dùng. Trữ đông dần.

Trái cây chín quá thì làm sinh tố. Hoặc đông lạnh.

Cơm nguội làm cơm chiên. Ngon hơn cơm nóng.

Dán danh sách đồ đông lên cửa tủ. Không quên.

Phần lớn đồ ăn bị bỏ đi không phải vì hỏng mà vì bị quên, nên ghi ngày và rà tủ mỗi tuần giải quyết gần hết vấn đề. Ghi ngày và rà tủ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918832283